Đá xây dựng ĐBSCL 2026: Vì sao nguồn cung đang bị siết?
Hơn 367 héc-ta chồng lấn quy hoạch lâm nghiệp. 4 trong 5 mỏ đá lớn nhất của An Giang phải tạm dừng hoặc sản xuất cầm chừng. Đó là bức tranh nguồn cung đá xây dựng ĐBSCL tính đến giữa tháng 9/2026.
Làn sóng siết chặt khai thác khoáng sản trên cả nước
Từ đầu năm 2026, Luật Địa chất và Khoáng sản chính thức có hiệu lực đầy đủ. Vì vậy, nhiều địa phương đồng loạt rà soát và chấm dứt giấy phép các mỏ đất, đá chưa đủ điều kiện pháp lý.
Đà Nẵng chấm dứt giấy phép 13 doanh nghiệp
UBND thành phố Đà Nẵng ra quyết định chấm dứt giấy phép khai thác khoáng sản của 13 doanh nghiệp. Các mỏ này nằm tại khu vực Hòa Vang, gồm:
- Mỏ đất đồi Đầu Voi
- Mỏ đá An Sơn và An Sơn 2
- Mỏ đất đồi đèo Đại La
- Mỏ đá Đại La
- Mỏ đất đồi thôn Sơn Phước (xã Hòa Ninh)
- Mỏ đất đồi thôn Thạch Nham (xã Hòa Nhơn)
- Mỏ đất đồi thôn Xuân Phú và Phú Hạ (xã Hòa Sơn)
- Mỏ đất đồi làm vật liệu san nền tại thôn Hòa Khê (xã Hòa Sơn)
- Mỏ đất đồi thôn Phước Thuận
- Mỏ đá Sơn Gà (xã Hòa Khương)
- Mỏ đá Động Cao (xã Hòa Sơn)
- Mỏ đất đồi tại thôn Xuân Phú và Hòa Khê (xã Hòa Sơn)
Các đơn vị buộc phải di dời thiết bị. Đồng thời, họ phải thực hiện thủ tục đóng cửa mỏ. Dù vậy, ngay cả khi huy động hết công suất hiện có, nguồn cung đá tại đây vẫn chỉ đáp ứng khoảng 70% nhu cầu năm 2026.
Thanh Hóa tạm dừng một mỏ đá vôi
Tương tự, tại Thanh Hóa, một mỏ đá vôi tại xã Cẩm Tú bị yêu cầu tạm dừng khai thác. Mục đích là để rà soát an toàn kỹ thuật. Ngoài ra, cơ quan chức năng cũng đo đạc lại hiện trạng trữ lượng.
Mỏ đá vôi nguyên liệu xi măng cả nước
Nhóm mỏ đá vôi nguyên liệu xi măng trên cả nước cũng không ngoại lệ. Trong đó, cụm Hạ Long – Cẩm Phả – Uông Bí (Quảng Ninh) phải dừng hoặc đóng cửa theo lộ trình. Nguyên nhân chủ yếu đến từ chính sách “chuyển đổi nâu sang xanh”. Bên cạnh đó, các quy định mới về môi trường cũng góp phần siết chặt hoạt động này.
Nhìn chung, phần lớn nguyên nhân đến từ pháp lý đất đai. Cụ thể là giấy phép hết hạn, chồng lấn quy hoạch, hoặc chưa hoàn thiện thủ tục. Nói cách khác, đây không phải là vấn đề hết trữ lượng.

Đá xây dựng ĐBSCL: khi cả vùng chỉ trông vào một tỉnh
Khác với các vùng miền khác, Đồng bằng sông Cửu Long gần như không có mỏ đá xây dựng. Ngoại lệ duy nhất là An Giang. Tại đây tập trung cụm mỏ núi Cô Tô, Bà Đội, núi Dài và Sơn Trà. Cụm mỏ này cung ứng đá cho toàn bộ các công trình dân dụng và hạ tầng trọng điểm của cả vùng, bao gồm các tuyến cao tốc miền Tây đang thi công.
Vướng quy hoạch từ những năm 1990-2000
Theo rà soát của ngành chức năng, các mỏ này có tổng diện tích chồng lấn quy hoạch khoảng 367 héc-ta. Trong đó, 20,78ha chồng lấn rừng tự nhiên. Bên cạnh đó, 346,24ha chồng lấn rừng trồng và đất trống có cây tái sinh.
Đáng chú ý, phần lớn các mỏ được cấp phép từ rất sớm: mỏ núi Dài từ năm 1995, Cô Tô và Bà Đội từ năm 2000. Trên thực địa, các khu vực này hiện không còn rừng. Tuy nhiên, trên giấy tờ quy hoạch, chúng vẫn được xác định là đất lâm nghiệp.
Áp lực dồn về một mỏ duy nhất
Do vướng thủ tục, phần lớn các mỏ phải tạm dừng hoặc sản xuất cầm chừng. Kết quả là áp lực cung ứng hiện dồn gần hết về mỏ núi Dài của Công ty Antraco. Đơn vị này kỳ vọng nâng công suất lên 3,6 triệu m³ đá thành phẩm mỗi năm.
Trong khi đó, mỏ Cô Tô cam kết khả năng cung ứng 1,2 triệu m³/năm. Tuy nhiên, đến nay, mỏ vẫn chưa được chuyển đổi xong mục đích sử dụng đất rừng. Vì vậy, mỏ này chưa thể khai thác trở lại.
Bến thủy vật liệu cũng chịu ảnh hưởng
Song song đó, các đợt thanh tra liên ngành về trật tự đường thủy nội địa năm 2026 cũng đang siết chặt hoạt động của các bến bãi tập kết vật liệu. Vì vậy, các bến thủy dọc sông Tiền, sông Hậu nhiều khả năng cũng sẽ chịu tác động tương tự trong thời gian tới.
Ba rủi ro thực tế cho chủ trạm trộn và nhà thầu miền Tây
Khi nguồn cung tại chỗ bị siết lại, các đơn vị mua đá xây dựng ở ĐBSCL đối mặt với ba rủi ro cụ thể:
- Khối lượng không ổn định — nguồn cung khan hiếm khiến việc đảm bảo đủ khối lượng theo cam kết trở nên khó hơn. Điều này đặc biệt rõ vào các đợt cao điểm thi công.
- Rủi ro pháp lý khi tìm nguồn thay thế — trong giai đoạn khan hàng, nguy cơ tiếp cận nguồn đá chưa đầy đủ giấy phép, hoá đơn VAT hoặc CO/CQ tăng lên đáng kể.
- Biến động chất lượng — do phải xoay sang nhiều đầu mối cung ứng khác nhau, việc kiểm soát đồng đều chất lượng đá giữa các lô hàng trở nên khó khăn hơn.
Góc nhìn từ vận tải thủy nội địa
Trong bối cảnh nguồn tại chỗ bị thu hẹp, việc kết nối với các mỏ đá đã vận hành ổn định ở khu vực khác là một phương án đáng cân nhắc. Đặc biệt, khi vận chuyển về ĐBSCL bằng đường thủy, doanh nghiệp vẫn duy trì được tính liên tục và minh bạch của chuỗi cung ứng.
Giải pháp kết nối nguồn cung
Đây cũng là hướng đi mà CargoOn đang triển khai. Cụ thể, CargoOn kết nối nguồn đá từ các mỏ tại Đồng Nai (FICO Tân Uyên, Hoá An) với các trạm trộn và công trình tại 13 tỉnh thành miền Tây. Việc kết nối này thông qua hệ thống điều phối sà lan nội bộ. Các mỏ này có đầy đủ hồ sơ khai thác, phiếu cân điện tử tại mỏ gốc và chứng nhận CO/CQ.
Vì sao đá Đồng Nai là nguồn thay thế phù hợp
Khác với các mỏ núi khai thác lộ thiên như Cô Tô, Bà Đội đang vướng quy hoạch rừng, các mỏ tại Đồng Nai vận hành theo mô hình công nghiệp quy mô lớn. Ngoài ra, mỗi lô đá đều có chứng nhận chất lượng QUATEST 3 rõ ràng. Nhờ vậy, nguồn cung tại đây ổn định hơn. Đồng thời, rủi ro pháp lý về đất rừng như tại An Giang cũng được hạn chế.
Vì vậy, nếu đơn vị của anh/chị đang cần chủ động hơn về nguồn cung đá xây dựng có đầy đủ giấy tờ pháp lý trong giai đoạn thị trường biến động này, có thể liên hệ đội ngũ CargoOn qua Zalo/Hotline bên dưới để được tư vấn cụ thể theo nhu cầu công trình.
Sà lan CargoOn vận chuyển đá xây dựng ĐBSCL qua tuyến sông Đồng Nai – miền Tây
CargoOn.vn – Giải pháp thủy vận tải nội địa & Cung ứng đá xây dựng miền Tây
- Website: http://cargoon.vn
- Hotline: 028.9999.5989
- Email: hotro@cargoon.vn
